[GIẢI ĐÁP] WTO là gì



Tìm hiểu về viết tắt WTO và tổ chức WTO là gì

Tổ chức thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization, viết tắt WTO; tiếng Pháp: Organisation mondiale du commerce; tiếng Tây Ban Nha: Organización Mundial del Comercio; tiếng Đức: Welthandelsorganisation) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định buôn bán giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản buôn bán để tiến tới tự do buôn bán. Ngày 1 tháng 9 năm 2013, ông Roberto Azevêdo được bầu làm Tổng giám đốc thay cho ông Pascal Lamy. Tính đến ngày 29 tháng 07năm 2016, WTO có 164 thành viên. Mọi thành viên của WTO được đòi hỏi phải cấp cho những thành viên khác những ưu đãi nhất định trong trao đổi hàng hóa, ví dụ (với một số ngoại lệ) những sự nhượng bộ về trao đổi hàng hóa được cấp bởi một thành viên của WTO cho một đất nước khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO (WTO, 2004c).
Trong thập niên 1990 WTO là mục tiêu chính của phong trào chống toàn cầu hóa.
Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO vào ngày 11/1/2007.
Mục lục
Nguồn gốc
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức trao đổi hàng hóa Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về trao đổi hàng hóa và Việc làm tại La Habana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này.[5][6][7] Một số nhà sử học nghĩ là sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới công ty Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997).
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh buôn bán quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và trao đổi hàng hóa (GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước vào GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước buôn bán mới. Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các cách thức và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và bành trướng, mở ra. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập tham gia ngày 1 tháng 1 năm 1995.[8]
Chức năng
WTO có các chức năng sau:
• Quản lý việc triển khai các hiệp định của WTO
• Diễn đàn đàm phán về thương mại
• xử lý các tranh chấp về trao đổi hàng hóa
• Giám sát các chính sách buôn bán của các quốc gia
• hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
• hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
Đàm phán
Phần lớn các quyết định của WTO đều dựa trên cơ sở đàm phán và đồng thuận. Mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau. Nguyên tắc đồng thuận có ưu điểm là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp thuận. Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều quảng thời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận. Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiều khó khăn.
Trên hiện thực, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí của tất cả các thành viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa những nhóm nước. Những cuộc đàm phán như vậy thường được gọi là “đàm phán trong phòng xanh” (tiếng Anh: “Green Room” negotiations), lấy theo màu của phòng làm việc của Tổng giám đốc WTO tại Genève, Thụy Sĩ. Chúng còn được gọi là “Hội nghị Bộ trưởng thu hẹp” (Mini-Ministerials) khi chúng diễn ra ở các nước khác. Các bước này thường bị nhiều nước đang phát triển chỉ trích vì họ hoàn toàn phải đứng ngoài các cuộc đàm phán như vậy [2].
Richard Steinberg (2002) lập luận rằng mặc dầu mô hình đồng thuận của WTO đem lại vị thế đàm phán ban đầu dựa trên nền tảng luật lệ, các vòng đàm phán thương mại kết thúc thông qua vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, và có thể không đem đến sự cải thiện Pareto. Thất bại được nhiều người biết đến nhất và cũng gần đây nhất trong việc đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ở Seattle (1999) và Cancún (2003) do một số nước đang phát triển không chấp thuận các đề xuất được đưa ra.
WTO tiến hành tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001. Các cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại Cancún, México vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông từ ngày 13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 2005.
[ẩn]
• x
• t
• s
[9]
Tên bắt đầu Kéo dài Số đất nước
Genevra Tháng 4, 1946 7 tháng 23
Currency Tháng 4, 1949 5 tháng 13
Thổ Nhĩ Kỳ Tháng 9, 1950 8 tháng 38
Genevra II Tháng 1, 1956 5 tháng 26
Dylan Tháng 9, 1960 11 tháng 26
Kennedy Tháng 5, 1964 37 tháng 62
Tokyo Tháng 9, 1973 74 tháng 102
Uruguay Tháng 9, 1986 87 tháng 123
Doha Tháng 11, 2001 ? 141
giải quyết tranh chấp
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định buôn bán, WTO còn hoạt động như một trọng tài xử lý các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO. Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt buôn bán đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO. Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan xử lý Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạm quy định của WTO [3].
Hệ thống xử lý tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm giải quyết Tranh chấp. Ban hội thẩm này thường lệ gồm 3 đên 5 chuyên gia trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa liên quan. Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của các bên và viết thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm. Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể triển khai thủ tục khiếu nại lên Cơ quan phúc thẩm. Cơ quan này sẽ đánh giá đơn khiếu nại và có phán quyết liên quan trong một bản báo cáo xử lý tranh chấp của mình. Phán quyết của các cơ quan xử lý tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng xử lý Tranh chấp. Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng xử lý Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng xử lý tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan).
Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các “biện pháp trả đũa” (trừng phạt thương mại). Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu. Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS 267 về trợ cấp bông trái phép của Hoa Kỳ [4].
Cơ cấu tổ chức
Tất cả các thành viên WTO đều có thể vào tham gia các hội đồng, ủy ban của WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm xử lý Tranh chấp và các ủy ban đặc thù.
Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO. Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước trao đổi hàng hóa đa phương của WTO..
Cấp thứ hai: Đại hội đồng
Công việc hàng ngày của WTO được nhận trách nhiệm về bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng giải quyết Tranh chấp và Hội đồng kiểm tra Chính sách trao đổi hàng hóa. Tuy tên gọi khác nhau, nhưng hiện thực thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.
1. Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm họp nhiều lần. Đại hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO.
2. Hội đồng giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để đánh giá và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương).
3. Hội đồng rà soát Chính sách thương mại được nhóm họp để triển khai việc kiểm tra chính sách buôn bán của các nước thành viên theo cơ chế kiểm tra chính sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc kiểm tra diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được bắt đầu cách quãng hơn.
Cấp thứ ba: Các Hội đồng thương mại
Các Hội đồng thương mại hoạt động dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba Hội đồng thương mại là: Hội đồng buôn bán Hàng hóa, Hội đồng thương mại Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại. Một hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như Đại hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại hội đồng các vấn đề riêng rẽ như buôn bán và phát triển, môi trường, các thỏa thuận trao đổi hàng hóa khu vực, và các vấn đề quản lý khác. Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.
1. Hội đồng trao đổi hàng hóa Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và buôn bán (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến trao đổi hàng hóa quốc tế về hàng hóa.
hai. Hội đồng buôn bán Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt động liên quan đến buôn bán quốc tế về dịch vụ.
3. Hội đồng Các khía cạnh liên quan đến buôn bán của Quyền Sở hữu Trí tuệ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến buôn bán của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan
Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên ngành riêng biệt.
1. Dưới Hội đồng buôn bán Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm công tác, và 1 ủy ban đặc thù.
hai. Dưới Hội đồng trao đổi hàng hóa Dịch vụ là 2 ủy ban, hai nhóm công tác, và hai ủy ban đặc thù.
3. Dưới Hội đồng giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm.
Ngoài ra, do đòi hỏi đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy ban Đàm phán buôn bán trực thuộc Đại hội đồng để thức đẩy và tạo điều kiện thuận tiện cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Các nguyên tắc
• Không phân biệt đối xử:
1. Đãi ngộ quốc gia: Không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng như những doanh nhân các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức độ đãi ngộ bỏ ra cho các đối tượng tương tự trong nước.
2. Đãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi trao đổi hàng hóa của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO.
• Tự do mậu dịch hơn nữa: từng bước thông qua đàm phán
• Tính Dự kiến thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
• Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những thuận tiện và ưu đãi hơn cho các thành viên là các đất nước đang phát triển trong khuôn khổ các chỉ định của WTO.
• xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng cho trao đổi hàng hóa giữa các nước thành viên
Các hiệp định
Bài chi tiết: Hiệp định Marrakesh
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về trao đổi hàng hóa quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức trao đổi hàng hóa Thế giới được ký kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong trao đổi hàng hóa quốc tế, cơ chế xử lý tranh chấp, cơ chế kiểm tra chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại diễn đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện. Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:
• Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994) General Agreement of Tariffs and Trade
• Hiệp định chung về trao đổi hàng hóa Dịch vụ (GATS) General Agreement on Trade in Services
• Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến trao đổi hàng hóa của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) Trade-related aspects of intellectual property Rights
• Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) The Agreement on Trade-Related Investment Measures
• Hiệp định về Nông nghiệp (AoA) Agreement on Agriculture
• Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC) Agreement on Textiles and Clothing
• Hiệp định về Chống bán Phá giá (ADP) Agreement on Anti Dumping
• Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng(SCM) Agreement on Subsidies and Countervailing Measures
• Hiệp định về Tự vệ (SG) Agreement on Safeguard Measures
• Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu (ILP) Agreement on Import Licensing Procedures
• Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS) Agreement on Sanitary and Phytosanitary Measures
• Hiệp định về các Rào cản Kĩ thuật đối với thương mại (embitalyVietNam) Agreement on Technical Barries to Trade
• Hiệp định về Định giá Hải quan (ACV) Agreement on Customs Valuation
• Hiệp định về kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển (PSI) Agreement on Pre-Shipment Inspection
• Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO) Agreement on Rules of Origin
• Thỏa thuận về Cơ chế xử lý Tranh chấp (DSU) Agreement on Dispute Settlement Understanding
Tổng giám đốc
Các Tổng giám đốc của Tổ chức buôn bán Thế giới:[10]
• Roberto Azevêdo, 2013—
• Pascal Lamy, 2005–2013
• Supachai Panitchpakdi, 2002–2005
• Mike Moore, 1999–2002
• Renato Ruggiero, 1995–1999
• Peter Sutherland, 1995
Các Tổng giám đốc của Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch, GATT:
• Peter Sutherland, 1993–1995
• Arthur Dunkel, 1980–1993
• Olivier Long, 1968–1980
• Eric Wyndham White, 1948–1968

Việt Nam hội nhập tổ chức WTO

Việt Nam hội nhập tổ chức WTO

Gia nhập và thành viên

quá trình để trở thành thành viên của WTO là khác nhau đối với mỗi quốc gia muốn vào, và các quy định về quá trình gia nhập này tùy thuộc vào giai đoạn phát triển kinh tế và cơ chế buôn bán hiện tại của quốc gia đó.[11] quá trình này trung bình mất khoảng 5 năm, nhưng có thể kéo dài hơn nếu quốc gia muốn tham gia chưa thực hiện đầy đủ các cam kết hoặc có sự ngăn cản liên quan đến các vấn đề về chính trị. Các cuộc đàm phán gia nhập ngắn nhất dưới 5 năm là Cộng hòa Kyrgyzstan, trong khi thời gian này đối với Nga là dài nhất cho đến nay. Nga nộp đơn gia nhập đầu tiên vào GATT năm 1993, và được chấp thuận là thành viên tham gia tháng 12 năm 2011 và trở thành thành viên của WTO tham gia ngày 22 tháng 8 năm 2012.[12]
Thành viên
Bảng sau đưa ra danh sách tất cả các thành viên hiện tại và ngày gia nhập.[13]
đất nước Ngày gia nhập
Afghanistan
29 tháng 7 năm 2016
Albania
8 tháng 9 năm 2000
Angola
23 tháng 11 năm 1996
Antigua và Barbuda
1 tháng 1 năm 1995
Argentina
1 tháng 1 năm 1995
Armenia
5 tháng hai năm 2003
Australia
1 tháng 1 năm 1995
Austria
1 tháng 1 năm 1995
Bahrain
1 tháng 1 năm 1995
Bangladesh
1 tháng 1 năm 1995
Barbados
1 tháng 1 năm 1995
Bỉ
1 tháng 1 năm 1995
Belize
1 tháng 1 năm 1995
Benin
22 tháng 2 năm 1996
Bolivia
12 tháng 9 năm 1995
Botswana
31 tháng 5 năm 1995
Brazil
1 tháng 1 năm 1995
Brunei
1 tháng 1 năm 1995
Bulgaria
1 tháng 12 năm 1996
Burkina Faso
3 tháng 6 năm 1995
Burundi
23 tháng 7 năm 1995
Campuchia
13 tháng 10 năm 2004
Cameroon
13 tháng 12 năm 1995
Canada
1 tháng 1 năm 1995
Cape Verde
23 tháng 7 năm 2008
Cộng hòa Trung Phi
31 tháng 5 năm 1995
Tchad
19 tháng 10 năm 1996
Chile
1 tháng 1 năm 1995
Trung Quốc
11 tháng 12 năm 2001
Colombia
30 tháng 4 năm 1995
Cộng hòa Congo
27 tháng 3 năm 1997
Cộng hòa Dân chủ Congo
1 tháng 1 năm 1997
Costa Rica
1 tháng 1 năm 1995
Côte d’Ivoire
1 tháng 1 năm 1995
Croatia
30 tháng 11 năm 2000
Cuba
20 tháng 4 năm 1995
Cyprus
30 tháng 7 năm 1995
Cộng hòa Séc
1 tháng 1 năm 1995
Denmark
1 tháng 1 năm 1995
Djibouti
31 tháng 5 năm 1995
Dominica
1 tháng 1 năm 1995
Cộng hòa Dominica
9 tháng 3 năm 1995
Ecuador
21 tháng 1 năm 1996
Ai Cập
30 tháng 6 năm 1995
El Salvador
7 tháng 5 năm 1995
Estonia
13 tháng 11 năm 1999
Liên minh châu Âu[14]
1 tháng 1 năm 1995
Fiji
14 tháng 1 năm 1996
Phần Lan
1 tháng 1 năm 1995
Pháp
1 tháng 1 năm 1995
Gabon
1 tháng 1 năm 1995
Gambia
23 tháng 10 năm 1996
Georgia
14 tháng 6 năm 2000
Đức
1 tháng 1 năm 1995
Ghana
1 tháng 1 năm 1995
Hy Lạp
1 tháng 1 năm 1995
Grenada
22 tháng 2 năm 1996
Guatemala
21 tháng 7 năm 1995
Guinea
25 tháng 10 năm 1995
Guinea-Bissau
31 tháng 5 năm 1995
Guyana
1 tháng 1 năm 1995
Haiti
30 tháng 1 năm 1996
Honduras
1 tháng 1 năm 1995
Hồng Kông[15]
1 tháng 1 năm 1995
Hungary
1 tháng 1 năm 1995
Iceland
1 tháng 1 năm 1995
India
1 tháng 1 năm 1995
Indonesia
1 tháng 1 năm 1995
Ireland
1 tháng 1 năm 1995
Israel
21 tháng 4 năm 1995
Ý
1 tháng 1 năm 1995
Jamaica
9 tháng 3 năm 1995
Nhật Bản
1 tháng 1 năm 1995
Jordan
11 tháng 4 năm 2000
Kazakhstan
30 tháng 11 năm 2015
Kenya
1 tháng 1 năm 1995
Hàn Quốc
1 tháng 1 năm 1995
Kuwait
1 tháng 1 năm 1995
Kyrgyzstan
20 tháng 12 năm 1998
Laos
2 tháng hai năm 2013
Latvia
10 tháng 2 năm 1999
Lesotho
31 tháng 5 năm 1995
Liberia
14 tháng 7 năm 2016
Liechtenstein
1 tháng 9 năm 1995
Lithuania
31 tháng 5 năm 2001
Luxembourg
1 tháng 1 năm 1995
Macau[16]
1 tháng 1 năm 1995
Cộng hòa Macedonia
4 tháng 4 năm 2003
Madagascar
17 tháng 11 năm 1995
Malawi
31 tháng 5 năm 1995
Malaysia
1 tháng 1 năm 1995
Maldives
31 tháng 5 năm 1995
Mali
31 tháng 5 năm 1995
Malta
1 tháng 1 năm 1995
Mauritanie
31 tháng 5 năm 1995
Mauritius
1 tháng 1 năm 1995
México
1 tháng 1 năm 1995
Moldova
26 tháng 7 năm 2001
Mông Cổ
29 tháng 1 năm 1997
Montenegro
29 tháng 4 năm 2012[17]
Maroc
1 tháng 1 năm 1995
Mozambique
26 tháng 8 năm 1995
Myanmar
1 tháng 1 năm 1995
Namibia
1 tháng 1 năm 1995
Nepal
23 tháng 4 năm 2004
Hà Lan
1 tháng 1 năm 1995
New Zealand
1 tháng 1 năm 1995
Nicaragua
3 tháng 9 năm 1995
Niger
13 tháng 12 năm 1996
Nigeria
1 tháng 1 năm 1995
Norway
1 tháng 1 năm 1995
Oman
9 tháng 11 năm 2000
Pakistan
1 tháng 1 năm 1995
Panama
6 tháng 9 năm 1997
Papua New Guinea
9 tháng 6 năm 1996
Paraguay
1 tháng 1 năm 1995
Peru
1 tháng 1 năm 1995
Philippines
1 tháng 1 năm 1995
Ba Lan
1 tháng 7 năm 1995
Bồ Đào Nha
1 tháng 1 năm 1995
Qatar
13 tháng 1 năm 1996
România
1 tháng 1 năm 1995
Nga
22 tháng 8 năm 2012
Rwanda
22 tháng 5 năm 1996
Saint Kitts và Nevis
21 tháng hai năm 1996
Saint Lucia
1 tháng 1 năm 1995
Saint Vincent and the Grenadines
1 tháng 1 năm 1995
Samoa
10 tháng 5 năm 2012[18]
Ả Rập Saudi
11 tháng 12 năm 2005
Senegal
1 tháng 1 năm 1995
Seychelles
26 tháng 4 năm 2015
Sierra Leone
23 tháng 7 năm 1995
Singapore
1 tháng 1 năm 1995
Slovakia
1 tháng 1 năm 1995
Slovenia
30 tháng 7 năm 1995
Quần đảo Solomon
26 tháng 7 năm 1996
Nam Phi
1 tháng 1 năm 1995
Tây Ban Nha
1 tháng 1 năm 1995
Sri Lanka
1 tháng 1 năm 1995
Suriname
1 tháng 1 năm 1995
Swaziland
1 tháng 1 năm 1995
Thụy Điển
1 tháng 1 năm 1995
Thụy Sĩ
1 tháng 7 năm 1995
Đài Loan
1 tháng 1 năm 2002
Tajikistan
hai tháng 3 năm 2013
Tanzania
1 tháng 1 năm 1995
Thái Lan
1 tháng 1 năm 1995
Togo
31 tháng 5 năm 1995
Tonga
27 tháng 7 năm 2007
Trinidad và Tobago
1 tháng 3 năm 1995
Tunisia
29 tháng 3 năm 1995
Thổ Nhĩ Kỳ
26 tháng 3 năm 1995
Uganda
1 tháng 1 năm 1995
Ukraina
16 tháng 5 năm 2008
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
10 tháng 4 năm 1996
Liên hiệp Anh
1 tháng 1 năm 1995
Hoa Kỳ
1 tháng 1 năm 1995
Uruguay
1 tháng 1 năm 1995
Vanuatu
24 tháng 8 năm 2012[19]
Venezuela
1 tháng 1 năm 1995
Việt Nam
11 tháng 1 năm 2007
Yemen
26 tháng 6 năm 2014
Zambia
1 tháng 1 năm 1995
Zimbabwe
5 tháng 3 năm 1995
Quan sát viên
Bảng dưới đây đưa ra danh sách tất cả các quan sát viên hiện nay. Trong thời hạn năm năm được cấp tư cách quan sát của WTO, các quốc gia được yêu cầu để tiến hành tổ chức đàm phán gia nhập của mình.
đất nước Ngày trở thành quan sát viên
Algeria
3 tháng 6 năm 1987
Andorra
4 tháng 7 năm 1997
Azerbaijan
30 tháng 6 năm 1997
The Bahamas
10 tháng 5 năm 2001
Belarus
23 tháng 9 năm 1993
Bhutan
1 tháng 9 năm 1999
Bosnia and Herzegovina[a]
11 tháng 5 năm 1999
Comoros
22 tháng hai năm 2007
Equatorial Guinea
19 tháng hai năm 2007
Ethiopia
13 tháng 1 năm 2003
Holy See
None[b] (Observer since 16 tháng 7 năm 1997)[20]
Iran
19 tháng 7 năm 1996
Iraq
30 tháng 9 năm 2004
Lebanon[c]
30 tháng 1 năm 1999
Libya
10 tháng 6 năm 2004
São Tomé and Príncipe
14 tháng 1 năm 2005
Serbia[a]
23 tháng 12 năm 2004
Sudan
11 tháng 10 năm 1994
Syria[c]
10 tháng 10 năm 2001
Uzbekistan
8 tháng 12 năm 1994
1. ^ A ă Successor state to a state that was a party to GATT.
hai. ^ The Holy See is exempted from having to negotiate full WTO membership.
3. ^ A ă Was a party to GATT prior to withdrawing. (Theo wikipedia)


Vậy WTO là gì?

Điều kiện phát triển khi Việt Nam gia nhập WTO

Điều kiện phát triển khi Việt Nam gia nhập WTO

WTO với tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization). Tổ chức này được xây dựng thương hiệu và hoạt động từ 01/01/1995 sở hữu mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch.
Tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan – GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư).
các thành viên trong WTO
Tính tới ngày 26/6/2014, tổ chức này có 160 thành viên. Thành viên của WTO là những quốc gia (ví dụ Hoa Kỳ, Việt Nam…) hoặc những vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương (ví dụ EU, Đài Loan, Hồng Kông…).
(yếu tố về từng thành viên WTO và các cam kết gia nhập xem thêm tại http://www.wto.org)
Nhiệm vụ của WTO
WTO được ra đời mang 04 nhiệm vụ chủ yếu:
• Thúc đẩy việc thực hiện những Hiệp định và cam kết đã đạt được trong khuôn khổ WTO (và cả các cam kết trong tương lai, nếu có);
• Tạo diễn đàn để những thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết những Hiệp định, cam kết mới về tự do hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại;
• Giải quyết những tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên WTO; và
• Rà soát định kỳ các chính sách thương mại của những thành viên.
Cơ cấu tổ chức WTO
Cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm (xếp theo thiết bị tự thẩm quyền từ cao xuống thấp):
• Hội nghị Bộ trưởng: Bao gồm những Bộ trưởng thương mại – kinh tế đại diện cho toàn bộ những nước thành viên; Họp 2 năm một lần để quyết định các vấn đề quan trọng của WTO;
• Đại hội đồng: Bao gồm đại diện đa số các thành viên; thực hiện chức năng của Hội nghị Bộ trưởng trong khoảng giữa hai kỳ hội nghị của cơ quan này; Đại hội đồng cũng đóng vai trò là Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) và Cơ quan rà soát các chính sách thương mại;
• những Hội đồng Thương mại Hàng hoá, Thương mại dịch vụ, các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan tới Thương mại; các Uỷ ban, Nhóm công tác: Là các cơ quan được xây dựng thương hiệu để hỗ trợ hoạt động của Đại hội đồng trong từng lĩnh vực; mọi các thành viên WTO đều có thể cử đại diện tham gia các cơ quan này;
• Ban Thư ký: Ban Thư ký bao gồm Tổng Giám đốc WTO, 03 Phó Tổng Giám đốc và những Vụ, Ban giúp việc mang khoảng 500 nhân viên, khiến việc độc lập không phụ thuộc vào bất kỳ chính phủ nào.
giai đoạn thông qua quyết định trong WTO
Về cơ bản, những quyết định trong WTO được thông qua bằng cơ chế đồng thuận. Sở hữu nghĩa là chỉ tự nhiên một nước nào bỏ phiếu chống thì một quyết định hay quy định mới được xem là “được thông qua”.
vì vậy mọi những quy định, nguyên tắc hay luật lệ trong WTO đều là “hợp đồng” giữa các thành viên, tức là họ tự nguyện chấp thuận chứ ko phải bị áp đặt; và WTO ko phải là một thiết chế đứng trên các quốc gia thành viên.
Tuy nhiên, trong những nếu sau quyết định của WTO được thông qua theo các cơ chế bỏ phiếu đặc biệt (không áp dụng nguyên tắc đồng thuận):
• Giải thích những điều khoản của những Hiệp định: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ;
• giới hạn tạm thời nghĩa vụ WTO cho 1 thành viên: Được thông qua ví như với 3/4 số phiếu ủng hộ;
• Sửa đổi những Hiệp định (trừ việc sửa đổi các điều khoản về quy chế tối huệ quốc trong GATT, GATS và TRIPS): Được thông qua ví như với 2/3 số phiếu ủng hộ.

embitalyvietnam – * Tôi là một người nội trợ, nghe báo đăng về VN gia nhập WTO, nhưng tôi không rõ WTO là gì. Xin quý báo cung cấp cho tôi thông tin này. Chân thành cảm ơn! ([email protected])

WTO là tên soạn tắt từ tiếng Anh của Tổ chức buôn bán thế giới (World Trade Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15-4-1994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1995.

WTO ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và trao đổi hàng hóa ( The General Agreement on Tariffs and Trade – GATT). Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những cách thức buôn bán giữa các quốc gia trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết.

Các cách thức và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể.

– Trụ sở chính: Geneva, Thụy Sĩ

– Thành viên: 149 nước ( tính đến ngày 11 tháng 12 năm 2005). Gia nhập vào ngày 7-11-2006, Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO.

– Ngân sách: : 175 triệu francs Thụy Sỹ ( theo số liệu 2006 )

– Nhân viên: 635 người

– Tổng giám đốc: Pascal Lamy

Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau:

WTO là nơi đề ra những quy định:

Ðể điều tiết hoạt động buôn bán giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới.

WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:

Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán. Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới. &Quot;Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán”. Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các đất nước, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ buôn bán giữa các bên.

WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của buôn bán quốc tế:

trụ sở WTO

trụ sở WTO

Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm bành trướng, mở ra trao đổi hàng hóa, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên. Các văn bản pháp lý này bản chất là các “hợp đồng”, theo đó các chính phủ các nước tham gia ký kết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách trao đổi hàng hóa trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất đích đến của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các công ty, các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu triển khai hoạt động kinh doanh, trao đổi hàng hóa của mình.

WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp:

Nếu “mục tiêu kinh tế” của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá trao đổi hàng hóa hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh…(gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giải quyết các bất đồng và tranh chấp trao đổi hàng hóa phát sinh giữa các thành viên theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các cách thức cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là ?mục tiêu chính trị? Của WTO. Đích đến cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới “mục tiêu xã hội” của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng doanh thu cho người dân, phát triển khó sụp đỗ, bảo vệ môi trường.

 


Warning: Illegal string offset 'cats' in /home/brmqzlrv/embitalyvietnam.org/wp-content/themes/ctdg/single.php on line 49

Warning: Illegal string offset 'cats' in /home/brmqzlrv/embitalyvietnam.org/wp-content/themes/ctdg/single.php on line 51

Warning: Illegal string offset 'cat' in /home/brmqzlrv/embitalyvietnam.org/wp-content/themes/ctdg/single.php on line 51

Warning: Illegal string offset 'cat' in /home/brmqzlrv/embitalyvietnam.org/wp-content/themes/ctdg/single.php on line 57
- Tags: